Gương người tốt VT

Hỏi đáp - Tố giác

Trang địa phương

Cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của xã hội hóa hoạt động phòng cháy và chữa cháy tại việt nam

13/02/2020 9:46:31 SA

 

Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế ngày càng phát triển, các khu đô thị, khu công nghiệp ngày càng nhiều dẫn đến nguy cơ cháy, nổ ngày càng gia tăng. Công tác phòng cháy, chữa cháy là vấn đề lớn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, tự giác của mọi tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy, xã hội hóa công tác phòng cháy và chữa cháy (PCCC) và phát triển dịch vụ công trong lĩnh vực này là một yêu cầu cấp thiết, nhằm góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu số vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự bình yên của nhân dân. Xã hội hóa công tác PCCC là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp đảm bảo an toàn PCCC. Nói cách khác, xã hội hóa hoạt động PCCC là biến các chủ trương, chính sách, các bộ luật về PCCC thành nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội: từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý cho tới mọi người dân ở mọi lứa tuổi trong xã hội. Do vậy, đề tìm hiểu rõ hơn về xã hội hóa công tác PCCC, tác giả bài viết đã đi sâu nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của xã hội hóa công tác PCCC tại Việt Nam hiện nay.

1. Cơ sở thực tiễn

Cùng với quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội và trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, càng ngày chúng ta càng nhận thức đầy đủ hơn sự cần thiết phải từng bước xã hội hóa công tác phòng cháy và chữa cháy. Sự cần thiết đó bắt nguồn từ chính yêu cầu của công tác PCCC trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.

 Chúng ta đều biết sự cháy có thể xảy ra bất kỳ đâu, vào bất cứ thời điểm nào nếu ở đó có sự kết hợp trong những điều kiện nhất định giữa chất cháy, nguồn nhiệt và chất ôxy hoá. Sự phát triển của khoa học - công nghệ và gắn liền với nó là sự tăng trưởng kinh tế không có nghĩa tự nó loại trừ các nguy cơ gây cháy mà trên thực tế luôn tiềm ẩn nguy cơ này ở mức độ cao. Nghiên cứu các quy luật của việc hình thành và phát triển đám cháy trong điều kiện kinh tế, xã hội và khí hậu nước ta cho thấy để phòng ngừa cháy tốt, kịp thời dập tắt đám cháy ngay từ khi nó mới xuất hiện thì điều kiện tiên quyết là công tác PCCC phải được thực hiện từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cơ sở. Do đó, hoạt động PCCC, từ trong bản chất của nó luôn mang tính xã hội rộng lớn.

Yếu tố thứ hai của sự cần thiết phải tiến hành xã hội hóa công tác PCCC  xuất phát từ tính chất và đặc điểm của hoạt động PCCC. Hoạt động PCCC, xét về thực chất là hoạt động mang tính khoa học, kỹ thuật. Cơ sở khoa học của phòng cháy cũng như hoạt động chữa cháy là phải dựa trên việc nghiên cứu các nguyên nhân, điều kiện, cơ chế hình thành sự cháy, của sự phát triển và dập tắt đám cháy. Như vậy, khoa học về PCCC bản thân nó có đối tượng, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu xác định, nhưng để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đó, cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành khoa học thuộc các lĩnh vực khác có liên quan, chẳng hạn như trong lĩnh vực điện năng, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế tạo máy v.v... Điều này có nghĩa sự cần thiết phải phối hợp, liên kết với các cơ quan, các nhà khoa học trong các lĩnh vực khác để hợp tác nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ vào trong công tác PCCC.

Mặt khác của tính chất khoa học, kỹ thuật của công tác PCCC đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngày càng hiện đại vào việc phòng ngừa cháy cũng như trong hoạt động chữa cháy. Tuy nhiên, việc trang bị các phương tiện như vậy cần một nguồn kinh phí không nhỏ. Trước đây nguồn kinh phí này chủ yếu từ phía Nhà nước, do Nhà nước bảo đảm. Đến nay, do nhu cầu hiện đại hóa, số lượng các phương tiện phục vụ cho công tác PCCC của lực lượng PCCC chuyên nghiệp là rất lớn. Theo tính toán của Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, chỉ tính nhu cầu đầu tư mua sắm phương tiện bổ sung cho phương tiện chữa cháy bị hư hỏng cần thay thế đến năm 2020 đã là khoảng 30.000 tỷ đồng. Như vậy trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn như ở nước ta, muốn tạo nguồn tài chính cho PCCC cần phải được thực hiện thông qua việc huy động mọi nguồn lực của xã hội. Kinh nghiệm thực tế ở các nước phát triển cho thấy, ngoài nguồn tài chính đầu tư của nhà nước, họ còn huy động các nguồn kinh phí khác cho PCCC, ví dụ như ở Ôxtrâylia 86% kinh phí cho hoạt động của lực lượng PCCC lấy từ bảo hiểm cháy; tại CH Liên bang Nga mới đây đã ban hành đạo luật về bảo hiểm bắt buộc đối với tài sản của các pháp nhân, theo đó trích 10% nguồn thu bảo hiểm tài sản để phòng cháy. Ở nước ta, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (được thay thế bằng Nghị định số 23/2008/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ)., theo đó trích số phần trăm nguồn thu từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc cho hoạt động PCCC. 

Xét trên góc độ quản lý, lực lượng Cảnh sát PCCC là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về PCCC trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố (713 đơn vị hành chính cấp huyện, 11.161 xã, phường). Lực lượng Cảnh sát PCCC đã có nhiều cố gắng từng bước đổi mới công tác quản lý, tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng; vừa thực hiện tốt chức năng tham mưu vừa trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý và thường trực sẵn sàng chữa cháy, góp phần quan trọng đưa Luật PCCC vào thực tiễn cuộc sống. 

Tuy nhiên, tổ chức và biên chế của Cảnh sát PCCC còn nhiều bất cập, chưa ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ quản lý; tính chất các đối tượng quản lý lại đa dạng và phức tạp, sự đan xen giữa khu dân cư với các cơ sở sản xuất kinh doanh, điều kiện về giao thông, nguồn nước chữa cháy, thông tin liên lạc đều không bảo đảm các yêu cầu về PCCC; toàn lực lượng mới chỉ có hơn 400 đội Cảnh sát PCCC (dự kiến trước mắt cần thành lập tối thiểu 713 đội chữa cháy, tương ứng với đơn vị hành chính cấp huyện). Sự thiếu hụt về lực lượng là cản trở cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, nhưng cho dù trong tương lai, biên chế của Cảnh sát PCCC có tăng lên, các đội PCCC có thể được thành lập đến cấp huyện, các nơi tập trung dân cư, nhưng rõ ràng với quốc gia trên 90 triệu dân đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì công tác PCCC vẫn phải do cơ sở và phải được bắt đầu từ cơ sở.

Hiện nay các hoạt động nghiệp vụ như: kiểm tra an toàn PCCC, thẩm duyệt về PCCC, kiểm định phương tiện PCCC, tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ PCCC… đều chỉ do lực lượng Cảnh sát PCCC thực hiện. Trong khi đó pháp luật về PCCC đã cho phép hình thành và cấp phép các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, dịch vụ phòng cháy và chữa cháy: Tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát; tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật; thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy; tư vấn chuyển giao công nghệ phòng cháy, chữa cháy; sản xuất, lắp ráp phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy; huấn luyện, hướng dẫn về nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy; kinh doanh phương tiện phòng cháy, chữa cháy. Đây là các loại hình doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, giúp Nhà nước cung ứng các dịch vụ về kỹ thuật, phương tiện, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy. Do vậy, đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách để các đơn vị kinh doanh dịch vụ PCCC có điều kiện phát huy, hỗ trợ các hoạt động PCCC và giảm tải các hoạt động dịch vụ công của lực lượng Cảnh sát PCCC.

Xã hội hóa công tác PCCC có tiền đề xuất phát từ quan điểm toàn dân tham gia PCCC, nhưng được nâng cao hơn về chất thể hiện ở trình độ tự tổ chức, tự bảo đảm các điều kiện an toàn PCCC trên quy mô toàn xã hội. Tư tưởng về xã hội hóa công tác PCCC không phải đến thời kỳ đổi mới mới xuất hiện mà nó đã được đề cập từ khi ban hành Pháp lệnh quy định việc quản lý của nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy (1961). Tại Điều 5 của Pháp lệnh quy định: ở các thị xã, khu phố, thị trấn, xã, thôn, xóm, cơ quan, xí nghiệp, kho tàng, công trường, nông trường và các nơi cần thiết khác sẽ thành lập các đội PCCC có tính chất nghĩa vụ của nhân dân; … ở các xí nghiệp quan trọng, ngoài đội PCCC nghĩa vụ của nhân dân, có thể thành lập các đội chữa cháy chuyên nghiệp. Kinh phí cần thiết do các xí nghiệp đài thọ.

Thực tiễn công tác PCCC hơn gần 60 năm qua đã chứng minh ở những cơ sở nào, địa phương nào lãnh đạo và những thành viên trong các cơ sở đó quan tâm, thực hiện tốt công tác PCCC, coi PCCC như là hoạt động tất yếu trong hoạt động của cơ sở, thì ở đó không xảy ra cháy hoặc nếu có cháy thì cũng dập tắt kịp thời. Với nhận thức mới về tầm quan trọng của xã hội hóa công tác PCCC, Luật phòng cháy và chữa cháy, trên cơ sở tổng kết thực tiễn PCCC đã coi xã hội hóa công tác PCCC như là giải pháp mang tính chiến lược. 

2. Cơ sở pháp lý

Xuất phát từ yêu cầu khách quan và tầm quan trọng của việc xã hội hóa công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nên Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, quy định, hướng dẫn nhằm huy động sức mạnh của toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ như: Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy; Luật phòng cháy và chữa cháy năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy năm 2013; Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy.

- Xã hội hóa hoạt động PCCC được thể hiện tại Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCCC.

+ Sự nghiệp PCCC muốn đạt được kết quả phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, trong đó mọi hoạt động PCCC phải được tiến hành từ cơ sở, thôn, ấp, bản, tổ dân phố, từ hộ gia đình. Quan điểm này đã được thể hiện trong nguyên tắc phòng cháy và chữa cháy được quy định tại Điều 4 của Luật PCCC: phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy và mọi hoạt động phòng cháy và chữa cháy trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ.

+ Để hoạt động PCCC có hiệu quả thì trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình là rất quan trọng, đó là những người chịu trách nhiệm tổ chức và thường xuyên kiểm tra PCCC nhằm bảo đảm các điều kiện an toàn về PCCC (khoản 3 Điều 5 Luật PCCC). Theo đó, hàng loạt các quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của người đứng đầu được quy định trong Luật PCCC, Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 66/2014/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác về PCCC. Trách nhiệm cụ thể như sau: ban hành các quy định, nội quy và biện pháp về PCCC; tổ chức thực hiện các quy định, nội quy, điều kiện an toàn, biện pháp về PCCC và yêu cầu đảm bảo an toàn PCCC theo quy định của pháp luật; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức PCCC, huấn luyện nghiệp vụ PCCC; xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động PCCC; quản lý và duy trì hoạt động của đội dân phòng, đội PCCC cơ sở hoặc đội PCCC chuyên ngành; kiểm tra an toàn về PCCC; xử lý hoặc đề xuất xử lý các hành vi vi phạm quy định, nội quy về PCCC; tổ chức khắc phục kịp thời các thiếu sót, vi phạm quy định an toàn về PCCC; trang bị phương tiện PCCC; chuẩn bị các điều kiện phục vụ chữa cháy; xây dựng và tổ chức thực tập phương án chữa cháy; tổ chức chữa cháy và giải quyết hậu quả vụ cháy; bảo đảm kinh phí cho hoạt động PCCC; tổ chức thống kê, báo cáo theo định kỳ về tình hình PCCC; thông báo kịp thời cho cơ quan Cảnh sát PCCC trực tiếp quản lý, những thay đổi lớn có liên quan đến bảo đảm an toàn về PCCC của cơ quan, tổ chức mình; phối hợp với các cơ quan, tổ chức và hộ gia đình xung quanh trong việc đảm bảo an toàn về PCCC; không gây nguy hiểm cháy, nổ đối với cơ quan, tổ chức và hộ gia đình lân cận. 

+ Xã hội hóa trong công tác tuyên truyền về PCCC, Điều 6 Luật PCCC chỉ rõ các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kiến thức về phòng cháy và chữa cháy thường xuyên, rộng rãi đến toàn dân. Cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và kiến thức về phòng cháy và chữa cháy cho mọi người trong phạm vi quản lý của mình.

+ Điều 9 Luật PCCC quy định rõ: Cơ quan, tổ chức và cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ phải thực hiện bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở đó. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và cá nhân khác tham gia bảo hiểm cháy, nổ. 

+ Công tác PCCC luôn được tiến hành trong sự tác động giữa các yếu tố: xây dựng lực lượng (dân phòng, đội PCCC cơ sở, đội PCCC chuyên ngành); trang bị phương tiện và kinh phí, về nguyên tắc phải do cơ sở, địa phương tự chịu trách nhiệm. Đây được coi như cốt vật chất của xã hội hóa, Luật PCCC đã đặt cơ sở pháp lý đồng thời cũng yêu cầu các cơ sở phải biết tự mình bảo đảm các yêu cầu về PCCC cho đơn vị mình.

+ Điều 46a quy định về PCCC tình nguyện, theo đó Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ sở, lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm tạo điều kiện, khuyến khích tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia phòng cháy và chữa cháy.

+ Luật PCCC quy định về trang bị phương tiện PCCC (Điều 50 Luật PCCC): Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tự trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy cho cơ sở, các loại rừng, phương tiện giao thông cơ giới thuộc phạm vi quản lý của mình. Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy cho đội dân phòng. Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và chủ rừng, chủ phương tiện giao thông cơ giới ngoài quốc doanh phải tự trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy. Hộ gia đình phải chuẩn bị các điều kiện, phương tiện để phòng cháy và chữa cháy.

+ Điều 54, 55, 56 Luật PCCC quy định nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động PCCC, gồm: Ngân sách nhà nước cấp; thu từ bảo hiểm cháy, nổ; đóng góp tự nguyện, tài trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. 

Nhà nước bảo đảm ngân sách cần thiết hàng năm để đầu tư cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy. Nhà nước cấp ngân sách hoạt động phòng cháy và chữa cháy cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, các đơn vị hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đơn vị khác thụ hưởng ngân sách nhà nước.  

Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài và tổ chức quốc tế đầu tư, tài trợ cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy. 

Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế đối với việc sản xuất, lắp ráp, xuất khẩu phương tiện phòng cháy và chữa cháy. 

Ngoài ra còn có những quy định về công tác tự kiểm tra an toàn PCCC; công tác xây dựng, thực tập phương án chữa cháy; yêu cầu về trang bị phương tiện PCCC, thành lập đội PCCC dân phòng, cơ sở, chuyên ngành; công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ về PCCC;…

- Xã hội hóa hoạt động PCCC thể hiện tại Chỉ thị số 47/CT-TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCCC. 

+ Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; coi công tác phòng cháy, chữa cháy là công việc hằng ngày ở mọi nơi, mọi lúc. 

+ Tập trung xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ sâu rộng; gắn với xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, với phương châm bốn tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ), nòng cốt là lực lượng dân phòng, lực lượng phòng cháy, chữa cháy cơ sở và chuyên ngành. Chú trọng xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến theo hướng tự nguyện, tự phòng, tự quản theo cụm dân cư, cụm doanh nghiệp an toàn phòng cháy, chữa cháy. Có chế độ, chính sách thỏa đáng đối với những người bị thương, hy sinh hoặc thiệt hại về tài sản khi tham gia chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; kịp thời động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. 

+ Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng cháy, chữa cháy. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật về phòng cháy, chữa cháy (giao thông, nguồn nước, thông tin liên lạc…); nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; mua sắm phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

+ Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế các vụ cháy, nổ lớn, nhất là ở các nơi có nguy cơ cháy, nổ cao; tăng cường phải thực hiện và giải quyết bằng lực lượng, phương tiện tại chỗ. Đồng thời, sẵn sàng lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện để ứng phó kịp thời khi có cháy, nổ, sự cố, tai nạn, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả về người và tài sản.

Từ sự phân tích trên cho thấy, xã hội hóa công tác phòng cháy và chữa cháy là sự đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Xã hội hóa công tác phòng cháy và chữa cháy là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới từ mô hình quản lý tập trung của nhà nước sang mô hình quản lý rộng rãi của xã hội nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội cho phòng cháy và chữa cháy. Vấn đề là cần có sự phân định rõ, việc nào là của Nhà nước, việc nào của tổ chức, cá nhân khác và việc nào Nhà nước và tổ chức, cá nhân khác cùng làm để phát huy vai trò của toàn xã hội trong công tác PCCC./.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Luật PCCC và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC;

2. Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật PCCC;

3. Chỉ thị số ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy.

Trung tá, TS Nguyễn Văn Bình, Trưởng phòng 7/C07

Thống kê

Số người Online:  54

 Số người ghé thăm:  

Liên kết website