Chuẩn hóa hệ thống ký hiệu thiết bị PCCC và CNCH trên bản vẽ thiết kế - Yêu cầu cần thiết trong giai đoạn chuyển đổi mới.

29/07/2026 11:31:55 AM
+Aa-

I. Đặt vấn đề: Tốc độ đô thị hóa và đầu tư xây dựng tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo sự gia tăng nhanh về số lượng và mức độ phức tạp của công trình. Trong bối cảnh đó, bản vẽ thiết kế hệ thống phòng cháy chữa cháy (PCCC) và cứu nạn cứu hộ (CNCH) là “ngôn ngữ kỹ thuật” duy nhất để cơ quan thẩm định, đơn vị thi công, tư vấn giám sát và chủ đầu tư cùng hiểu đúng, triển khai đúng một giải pháp thiết kế.

Vai trò này càng trở nên quan trọng kể từ ngày 01/7/2026, khi Nghị quyết số 66/NQ-CP bãi bỏ cơ chế nghiệm thu PCCC do lực lượng Công an chủ trì, chuyển sang cơ chế chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm nghiệm thu trên cơ sở hồ sơ thiết kế đã được thẩm duyệt. Khi vai trò kiểm soát trực tiếp của cơ quan quản lý tại khâu nghiệm thu giảm đi, độ chính xác và tính thống nhất của bản vẽ - trước hết là hệ thống ký hiệu thiết bị - càng phải được nâng cao để hạn chế rủi ro sai lệch giữa thiết kế và thi công thực tế. Tuy nhiên, trái với yêu cầu đó, hệ thống ký hiệu thể hiện thiết bị PCCC trên bản vẽ thiết kế hiện chưa được chuẩn hóa, chưa thống nhất và đã tồn tại nhiều năm mà chưa được giải quyết triệt để. Đây chính là khoảng trống cần sớm được khắc phục.

II. Thực trạng sử dụng ký hiệu trong bản vẽ thiết kế hệ thống PCCC 

1. Ký hiệu chưa thống nhất, mỗi đơn vị thiết kế một kiểu:

 Ký hiệu trong bản vẽ thiết kế là ngôn ngữ kỹ thuật thể hiện giải pháp bố trí thiết bị, giải pháp kỹ thuật cho nhà và công trình. Đối với hệ thống PCCC, ký hiệu chính là công cụ để hiện thực hóa việc phê duyệt, thẩm định và thi công, bảo đảm hệ thống hoạt động hiệu quả khi có sự cố xảy ra.

Thực trạng hiện nay cho thấy việc sử dụng ký hiệu trong các bản vẽ hệ thống PCCC còn chưa thống nhất, chưa được chuẩn hóa. Mỗi đơn vị thiết kế lựa chọn hoặc tự xây dựng một bộ ký hiệu riêng, dẫn đến tình trạng cùng một loại thiết bị nhưng lại được thể hiện bằng nhiều ký hiệu khác nhau. Đơn cử, với đầu báo cháy khói, đầu báo cháy nhiệt, trên thị trường và trong đồ án thiết kế đang tồn tại song song các kiểu ký hiệu, như:

Một số ký hiệu của đầu báo cháy khói, đầu báo cháy nhiệt trong bản vẽ thiết kế

 Sự thiếu nhất quán này gây khó hiểu, dễ nhầm lẫn trong toàn bộ quá trình thiết kế, thẩm định và thi công. Đáng chú ý hơn, trong thực tế, người thiết kế thường có nhu cầu chi tiết hóa loại đầu báo sử dụng - như đầu báo cháy khói thường, đầu báo cháy khói địa chỉ, đầu báo cháy khói quang, đầu báo cháy khói ion - nhưng hệ thống ký hiệu hiện có lại không đủ khả năng biểu thị hết các chủng loại này. Hệ quả là các đơn vị thi công, tư vấn giám sát không nắm rõ được ý đồ kỹ thuật của bản vẽ, dẫn đến lắp đặt sai chủng loại thiết bị, phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thi công, gây phát sinh chi phí, kéo dài tiến độ và tiềm ẩn rủi ro về chất lượng hệ thống báo cháy khi đưa vào vận hành.

2. Căn cứ pháp lý trong nước còn thiếu và chưa cập nhật:

 Tại Việt Nam, quy định về ký hiệu trong bản vẽ hệ thống PCCC hiện mới chỉ được đề cập tại TCVN 5040:1990 (tương đương ISO 6790:1986) - Thiết bị phòng cháy và chữa cháy, Ký hiệu hình vẽ dùng trên sơ đồ phòng cháy, Yêu cầu kỹ thuật. Tại mục 4.11 của tiêu chuẩn này mới chỉ quy định ký hiệu chung cho “thiết bị phát hiện khói” mà chưa phân biệt theo nguyên lý hoạt động (quang điện, ion hóa…) hay theo tính năng (địa chỉ, thường). Đây là một tiêu chuẩn đã ban hành cách đây 35 năm, được xây dựng trên nền tảng công nghệ và chủng loại thiết bị PCCC của giai đoạn trước, trong khi công nghệ thiết bị báo cháy, chữa cháy hiện nay đã phát triển vượt bậc với nhiều chủng loại, nguyên lý hoạt động mới mà tiêu chuẩn cũ chưa thể bao quát. 

Ký hiệu thiết bị phát hiện khói trong TCVN 5040:1990

3. Kinh nghiệm quốc tế: 

Nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia cho thấy vấn đề chuẩn hóa ký hiệu đã được quan tâm giải quyết từ sớm và tiếp tục được cập nhật thường xuyên:

- Hoa Kỳ với tiêu chuẩn NFPA 170:2024 - Standard for Fire Safety and Emergency Symbols đã thể hiện chi tiết ký hiệu cho từng chủng loại thiết bị: đầu báo cháy khói quang điện, đầu báo cháy khói ion hóa, đầu báo cháy nhiệt cố định, đầu báo cháy nhiệt gia tăng đối với hệ thống báo cháy tự động; đầu phun sprinkler hướng lên/hướng xuống, đầu phun hở hướng lên/hướng xuống đối với hệ thống chữa cháy tự động bằng nước, bọt.

- Trung Quốc với tiêu chuẩn GB-T-4327-2008 (phát triển từ ISO 6790:1986 - cùng gốc với TCVN 5040:1990 của Việt Nam) cũng đã cụ thể hóa thêm nhiều loại thiết bị như đầu báo cháy khói - nhiệt kết hợp, sát với thực tế phát triển công nghệ thiết bị PCCC hiện nay. Điểm chung của hai tiêu chuẩn nêu trên là đều xây dựng theo nguyên tắc mỗi nguyên lý hoạt động, mỗi tính năng riêng biệt của thiết bị tương ứng với một ký hiệu riêng biệt, không trùng lặp, không gây hiểu nhầm, đồng thời được rà soát, cập nhật định kỳ để bắt kịp sự phát triển của công nghệ thiết bị PCCC. Đây là bài học kinh nghiệm quan trọng mà Việt Nam cần nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống ký hiệu của mình, thay vì tiếp tục sử dụng một tiêu chuẩn đã lạc hậu so với thực tiễn. 

Ký hiệu một số thiết bị hệ thống PCCC trong NFPA 170:2024

II. Giải pháp chuẩn hóa hệ thống ký hiệu thiết bị PCCC và CNCH

Từ thực trạng nêu trên, có thể thấy việc chuẩn hóa ký hiệu trong bản vẽ thiết kế hệ thống PCCC không đơn thuần là một yêu cầu kỹ thuật mang tính hình thức, mà là một nhiệm vụ cấp thiết, cần được triển khai theo lộ trình bài bản với sự phối hợp của nhiều bên liên quan. Trên cơ sở đó, đề xuất một số nhóm giải pháp cụ thể như sau: 

Thứ nhất, nghiên cứu, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế làm cơ sở xây dựng bộ ký hiệu chuẩn cho Việt Nam. Cơ quan chuyên môn cần chủ trì rà soát, đối chiếu các tiêu chuẩn của khu vực và thế giới về ký hiệu thiết bị hệ thống PCCC - như tiêu chuẩn NFPA 170:2024 và GB-T-4327-2008 đã nêu ở trên - để xác định phương pháp phân loại ký hiệu theo nguyên lý hoạt động và tính năng thiết bị, từ đó xây dựng bộ ký hiệu phù hợp với đặc thù thiết bị đang lưu hành tại thị trường Việt Nam, bảo đảm vừa hội nhập với thông lệ quốc tế, vừa khả thi trong điều kiện thực tiễn trong nước.

Thứ hai, hệ thống hóa và ban hành tiêu chuẩn quốc gia thay thế TCVN 5040:1990. Đây là giải pháp có tính nền tảng và cần được ưu tiên thực hiện trước. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, cần xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn quốc gia mới (hoặc sửa đổi, bổ sung TCVN 5040:1990) về ký hiệu trong bản vẽ hệ thống PCCC, trong đó quy định rõ ký hiệu cho từng chủng loại thiết bị theo nguyên lý hoạt động, làm căn cứ pháp lý thống nhất áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Việc ban hành tiêu chuẩn cần gắn với lộ trình cụ thể, phân công đơn vị chủ trì soạn thảo, lấy ý kiến rộng rãi các đơn vị tư vấn thiết kế, cơ quan thẩm định, đơn vị thi công và các hội, hiệp hội chuyên ngành trước khi trình ban hành chính thức.

Thứ ba, số hóa bộ ký hiệu chuẩn, tích hợp với các phần mềm thiết kế phổ biến. Song song với việc ban hành tiêu chuẩn bằng văn bản, cần nghiên cứu xây dựng thư viện ký hiệu (block, family) chuẩn hóa để tích hợp trực tiếp vào các phần mềm thiết kế đang được sử dụng phổ biến như AutoCAD, Revit, các nền tảng BIM… Đây là giải pháp có tính quyết định đến hiệu quả áp dụng trong thực tế, bởi khi ký hiệu chuẩn được tích hợp sẵn trong công cụ thiết kế, người thiết kế sẽ có xu hướng sử dụng thống nhất, hạn chế tối đa việc tự ý điều chỉnh, sáng tạo ký hiệu riêng như hiện nay. 

Thứ tư, phổ biến, đào tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát việc áp dụng. Cần biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ ký hiệu chuẩn, tổ chức phổ biến rộng rãi trong hệ thống đào tạo chuyên ngành PCCC, tại các doanh nghiệp tư vấn thiết kế, đơn vị thi công và cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, trong quá trình thẩm định thiết kế và hậu kiểm theo cơ chế mới (chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm nghiệm thu), cơ quan quản lý cần đưa nội dung tuân thủ ký hiệu chuẩn thành một tiêu chí kiểm tra cụ thể, làm cơ sở nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời các trường hợp bản vẽ chưa tuân thủ.

Thứ năm, xây dựng cơ chế rà soát, cập nhật định kỳ. Công nghệ thiết bị PCCC luôn không ngừng phát triển, do đó bộ ký hiệu chuẩn sau khi ban hành không thể áp dụng cố định trong thời gian dài như TCVN 5040:1990 trước đây. Cần thiết lập cơ chế rà soát, sửa đổi, bổ sung định kỳ (tham khảo kinh nghiệm NFPA 170 – được Hoa Kỳ cập nhật thường xuyên theo từng năm), bảo đảm bộ ký hiệu luôn bám sát thực tiễn phát triển của thiết bị, công nghệ PCCC và CNCH.

IV. Kết luận:

Việc chuẩn hóa các ký hiệu trong bản vẽ thiết kế hệ thống PCCC và CNCH không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật thuần túy, mà còn là nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác thiết kế, thẩm định, thi công và quản lý vận hành công trình, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong bối cảnh pháp luật về PCCC đang chuyển mạnh sang cơ chế đề cao trách nhiệm tự chủ của chủ đầu tư, bản vẽ thiết kế - với hệ thống ký hiệu chính xác, thống nhất, khoa học - càng cần được xem là “hàng rào kỹ thuật” đầu tiên và quan trọng nhất để bảo đảm chất lượng công trình PCCC ngay từ khâu thiết kế. Đây là thời điểm phù hợp để các cơ quan chức năng khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và tiến tới ban hành tiêu chuẩn quốc gia thống nhất về ký hiệu tên thiết bị PCCC và CNCH trên bản vẽ thiết kế, đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới.

Phòng Thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy

 

 


Chia sẻ:Share on Zalo

TIN TỨC LIÊN QUAN